🕒 Cập nhật: 30/07/2026 · 📚 Nguồn: Y văn lâm sàng chuẩn (tham khảo: Tintinalli's Emergency Medicine)
📖 Tổng quan bệnh học
Định nghĩa: Sốc là một triệu chứng lâm sàng đặc trưng bởi tình trạng tụt huyết áp, thường được định nghĩa là huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc huyết áp trung bình dưới 65 mmHg không đáp ứng với truyền dịch ban đầu. Triệu chứng này biểu hiện bằng các dấu hiệu suy giảm tưới máu mô như rối loạn tri giác cấp tính, khó thở nặng, thiểu niệu hoặc vô niệu. Trên lâm sàng, bệnh nhân có thể có mạch nhanh hoặc chậm bất thường, loạn nhịp tim mới xuất hiện. Các dấu hiệu khác bao gồm da nổi vân tím lan rộng, lạnh toàn thân và thời gian đổ đầy mao mạch kéo dài.
Dịch tễ: Sốc là một triệu chứng lâm sàng quan trọng, được xử trí trong chuyên khoa Cấp cứu - Hồi sức. Triệu chứng này có thể xuất hiện ở nhiều đối tượng bệnh nhân với các tiền sử bệnh lý nền đa dạng. Các bệnh lý như tim mạch, đái tháo đường, bệnh thận mạn, bệnh gan, bệnh tự miễn, dị ứng, ung thư, hoặc chấn thương gần đây đều có thể là yếu tố nguy cơ. Việc hỏi tiền sử bệnh lý nền và các thuốc đang sử dụng là cần thiết để đánh giá tình trạng sốc.
Cơ chế bệnh sinh: Sốc là tình trạng suy giảm tưới máu mô, dẫn đến thiếu oxy và rối loạn chức năng tế bào. Cơ chế bệnh sinh của sốc rất đa dạng, bao gồm giảm thể tích tuần hoàn hiệu quả như trong sốc giảm thể tích. Sốc cũng có thể do suy bơm tim (sốc tim) hoặc do sự phân bố máu bất thường gây giãn mạch toàn thân (sốc phân bố), thường gặp trong sốc nhiễm khuẩn, sốc phản vệ hoặc sốc thần kinh. Ngoài ra, tắc nghẽn dòng máu lớn (sốc tắc nghẽn) hoặc các nguyên nhân nội tiết cũng có thể dẫn đến tình trạng sốc.
Phân loại: Sốc có thể được phân loại dựa trên thời gian khởi phát và diễn biến, bao gồm các dạng cấp tính, từ từ, liên tục hoặc từng đợt. Một cách phân loại quan trọng khác là dựa vào cơ chế bệnh sinh hoặc nhóm nguyên nhân gây ra. Các nhóm nguyên nhân chính bao gồm sốc giảm thể tích, sốc tim, sốc phân bố (như sốc nhiễm khuẩn, sốc phản vệ, sốc thần kinh), sốc tắc nghẽn và sốc do nguyên nhân nội tiết.